Từng mọc dại ven bờ mương, gắn với bữa cơm đạm bạc của người nghèo miền Trung, chột nưa nay bất ngờ “lên đời” thành đặc sản lạ. Chúng có vị giòn mát, ngọt hậu, có thể kết hợp thành nhiều món ăn đặc sắc.
Chột nưa là món đặc sản của người dân Huế, Quảng Trị mà ít người biết đến. Đây là phần bẹ của cây nưa, vốn gắn với những bữa cơm bình dị của người dân địa phương, nay "lên đời" thành đặc sản được bán khắp nơi.
Cây nưa hay còn gọi là khoai nưa, thuộc họ Ráy (Araceae), cùng họ với khoai môn, khoai sọ, dọc mùng. Cây dạng thân thảo, củ to, hình dẹt, đường kính từ 15–20cm. Lá nưa có cuống dài, màu lục nâu điểm những đốm trắng, tỏa ra ba nhánh lớn rồi tiếp tục xẻ nhỏ như lông chim. Nưa ưa đất ruộng ẩm, ven bờ mương, thường được trồng vào cuối hè và thu hoạch vào cuối đông, khi những cơn mưa ở Huế bắt đầu dai dẳng và không khí trở nên se lạnh.
Điều đặc biệt làm nên danh tiếng của chột nưa nằm ở thổ nhưỡng. Không phải nơi nào trồng nưa cũng ăn được, bởi nếu sai đất, củ nưa dễ gây ngứa. Ở Huế, chỉ một vài vùng được xem là “đất lành” cho nưa, nổi bật là phường Hương An, xã Quảng Điền. Nưa trồng ở vùng này cho củ thơm, chột nưa vị ngọt mát, hoàn toàn không gây ngứa. Chính vì thế, chột nưa nơi đây từ lâu đã trở thành niềm tự hào của người dân địa phương.
Từ một loại cây quen thuộc trong bữa ăn gia đình, chột nưa ngày nay còn mang lại giá trị kinh tế đáng kể. Nhiều hộ dân ở Quảng Điền trồng nưa theo hướng hàng hóa. Với chi phí đầu tư thấp, ít sâu bệnh, cây nưa được xem cây trồng có giá trị. Sau 4 tháng trồng, bình quân mỗi sào nưa cho thu nhập từ 15–25 triệu đồng tùy năm và điều kiện thời tiết.
Sau khi thu hoạch, chột nưa được gọt sạch vỏ, dùng sống dao dần cho dập thớ rồi cắt lát dày khoảng 2cm. Cách sơ chế này giúp nưa nhanh mềm và thấm vị khi nấu. Từ đó, người Huế có thể biến chột nưa thành hàng loạt món ăn hấp dẫn: canh chột nưa nấu tôm, canh cá lóc, chột nưa hầm thịt, ăn lẩu hay kho lạt với cá đồng.
Trong số đó, canh cá chột nưa được xem là món nổi tiếng nhất, ngon nhất khi nấu với cá lóc, cá vụn hay cá đồng tươi. Chột nưa được nấu mềm trên lửa riu riu, cá được um chín rồi cho vào nồi, thêm ruốc Huế, nêm nếm vừa miệng. Khi múc ra tô, rắc thêm hành lá, ngò tây, món canh tỏa hương thơm dịu, vị ngọt đậm của cá hòa cùng độ mềm giòn, mát lành của chột nưa.
Bên cạnh món canh, dưa chột nưa muối chua cũng là đặc sản nức tiếng. Cách làm tương tự dưa cải, nhưng dưa nưa có vị bùi, thơm, ăn giòn mát và đặc biệt không gây ngứa. Vào những ngày đông mưa lạnh, bữa cơm Huế chỉ cần đĩa dưa nưa ăn kèm thịt luộc cũng đủ ấm lòng.
Chột nưa không chỉ hiện diện trong bếp núc mà còn đi vào thơ ca, trở thành biểu tượng của sự no đủ, gần gũi. Những câu ca, vần thơ nhắc đến nưa khoai, gạo vãi hay bài thơ “Con cá chột nưa” của Tố Hữu đã góp phần đưa món ăn dân dã này vượt ra khỏi làng quê, được nhiều người biết đến trên cả nước.
Trên chợ mạng, chột nưa được bán với giá khoảng 60.000 đồng/kg. Vì cái tên lạ lẫm và hương vị đặc biệt mà gần đây, món ăn nhà nghèo này được người thành phố ưa chuộng. “Chột nưa có độ giòn mát tự nhiên, khi ăn thoạt đầu hơi đăng đắng nhẹ nhưng sau đó lại ngọt dần. Tôi thường mua về hầm với xương hoặc chần sơ rồi trộn gỏi tôm thịt, món nào cả nhà cũng mê”, bạn Trà (Đà Nẵng) cho biết.

