Truyện cổ tích tiếng Anh song ngữ hay nhất cho bé

Loan Trần Ngày 23/07/2021 15:34 PM (GMT+7)
Truyện cổ tích tiếng Anh song ngữ hay cho bé mẹ có thể đọc cho con hay cho con tự đọc vừa có những câu chuyện hay vừa học thêm được từ vựng tiếng Anh.

Truyện cổ tích cho bé không chỉ là những câu truyện hay mà còn là những bài học ý nghĩa. Truyện cổ tích tiếng Anh song ngữ cho bé vừa là những câu chuyện hay vừa giúp bé có thêm những từ mới tiếng Anh thú vị.

Truyện cổ tích tiếng Anh là gì?

Truyện cổ tích tiếng Anh là Fairy tales.

Đọc truyện cổ tích tiếng Anh cho bé có thể giúp bé phát triển khả năng ngôn ngữ, học tiếng Anh tự nhiên hiệu quả, nâng cao vốn từ vựng cho bé và cũng giúp bé nuôi dưỡng sự yêu thích với môn ngoại ngữ từ bé.

Có rất nhiều câu truyện cổ tích tiếng Anh hay cho bé mà bố mẹ có thể tham khảo sau đây.

1. Truyện cổ tích cô bé quàng khăn đỏ tiếng Anh

Truyện cổ tích tiếng Anh song ngữ hay nhất cho bé - 1

LITTER RED RIDING HOOD

Once upon a time there was a sweet little girl. Everyone who saw her liked her, but most of all her grandmother, who did not know what to give the child next. Once she gave her a little cap made of red velvet. Because it suited her so well, and she wanted to wear it all the time, she came to be known as Little Red Riding Hood. One day her mother said to her:– “Come Little Red Riding Hood. Here is a piece of cake and a bottle of wine. Take them to your grandmother. She is sick and weak, and they will do her well. Mind your manners and give her my greetings. Behave yourself on the way, and do not leave the path, or you might fall down and break the glass, and then there will be nothing for your sick grandmother.”Little Red Riding Hood promised to obey her mother. The grandmother lived out in the woods, a half hour from the village. When Little Red Riding Hood entered the woods a wolf came up to her. She did not know what a wicked animal he was, and was not afraid of him.– “Good day to you, Little Red Riding Hood.”– “Thank you, wolf.”– “Where are you going so early, Little Red Riding Hood?”– “To grandmother’s.”– “And what are you carrying under your apron?”– “Grandmother is sick and weak, and I am taking her some cake and wine. We baked yesterday, and they should give her strength.”– “Little Red Riding Hood, just where does your grandmother live?”– “Her house is a good quarter hour from here in the woods, under the three large oak trees. There’s a hedge of hazel bushes there. You must know the place,” said Little Red Riding Hood.The wolf thought to himself: “Now there is a tasty bite for me. Just how are you going to catch her?” Then he said: “Listen, Little Red Riding Hood, haven’t you seen the beautiful flowers that are blossoming in the woods? Why don’t you go and take a look? And I don’t believe you can hear how beautifully the birds are singing. You are walking along as though you were on your way to school in the village. It is very beautiful in the woods.”Little Red Riding Hood opened her eyes and saw the sunlight breaking through the trees and how the ground was covered with beautiful flowers. She thought: “If a take a bouquet to grandmother, she will be very pleased. Anyway, it is still early, and I’ll be home on time.” And she ran off into the woods looking for flowers. Each time she picked one she thought that she could see an even more beautiful one a little way off, and she ran after it, going further and further into the woods. But the wolf ran straight to the grandmother’s house and knocked on the door. “Who’s there?”– “Little Red Riding Hood. I’m bringing you some cake and wine. Open the door for me.”– “Just press the latch,” called out the grandmother.– “I’m too weak to get up.” The wolf pressed the latch, and the door opened. He stepped inside, went straight to the grandmother’s bed, and ate her up. Then he took her clothes, put them on, and put her cap on his head. He got into her bed and pulled the curtains shut.Little Red Riding Hood had run after flowers, and did not continue on her way to grandmother’s until she had gathered all that she could carry. When she arrived, she found, to her surprise, that the door was open. She walked into the parlor, and everything looked so strange that she thought: “Oh, my God, why am I so afraid? I usually like it at grandmother’s.” Then she went to the bed and pulled back the curtains. Grandmother was lying there with her cap pulled down over her face and looking very strange. “Oh, grandmother, what big ears you have!”– “All the better to hear you with.”– “Oh, grandmother, what big eyes you have!”– “All the better to see you with.”– “Oh, grandmother, what big hands you have!”– “All the better to grab you with!”– “Oh, grandmother, what a horribly big mouth you have!”– “All the better to eat you with!” And with that he jumped out of bed, jumped on top of poor Little Red Riding Hood, and ate her up.As soon as the wolf had finished this tasty bite, he climbed back into bed, fell asleep, and began to snore very loudly. A huntsman was just passing by. He thought it strange that the old woman was snoring so loudly, so he decided to take a look. He stepped inside, and in the bed there lay the wolf that he had been hunting for such a long time. “He has eaten the grandmother, but perhaps she still can be saved. I won’t shoot him,” thought the huntsman. So he took a pair of scissors and cut open his belly. He had cut only a few strokes when he saw the red cap shining through. He cut a little more, and the girl jumped out and cried: “Oh, I was so frightened! It was so dark inside the wolf’s body!” And then the grandmother came out alive as well. Then Little Red Riding Hood fetched some large heavy stones. They filled the wolf’s body with them, and when he woke up and tried to run away, the stones were so heavy that he fell down dead.The three of them were happy. The huntsman took the wolf’s pelt. The grandmother ate the cake and drank the wine that Little Red Riding Hood had brought. And Little Red Riding Hood thought to herself: “As long as I live, I will never leave the path and run off into the woods by myself if mother tells me not to.”They also tell how Little Red Riding Hood was taking some baked things to her grandmother another time, when another wolf spoke to her and wanted her to leave the path. But Little Red Riding Hood took care and went straight to grandmother’s. She told her that she had seen the wolf, and that he had wished her a good day, but had stared at her in a wicked manner. “If we hadn’t been on a public road, he would have eaten me up,” she said. “Come,” said the grandmother. “Let’s lock the door, so he can’t get in.” Soon afterward the wolf knocked on the door and called out: “Open up, grandmother. It’s Little Red Riding Hood, and I’m bringing you some baked things.” They remained silent, and did not open the door. The wicked one walked around the house several times, and finally jumped onto the roof. He wanted to wait until Little Red Riding Hood went home that evening, then follow her and eat her up in the darkness. But the grandmother saw what he was up to. There was a large stone trough in front of the house. “Fetch a bucket, Little Red Riding Hood,” she said. “Yesterday I cooked some sausage. Carry the water that I boiled them with to the trough.” Little Red Riding Hood carried water until the large, large trough was clear full. The smell of sausage arose into the wolf’s nose. He sniffed and looked down, stretching his neck so long that he could no longer hold himself, and he began to slide. He slid off the roof, fell into the trough, and drowned. And Little Red Riding Hood returned home happily and safely

CÔ BÉ QUÀNG KHĂN ĐỎ

Ngày xưa có một cô bé thùy mị, dễ thương. Cưng cô nhất vẫn là bà nội, có cái gì bà cũng để phần cháu. Một lần bà cho cô bé một chiếc khăn quàng bằng nhung đỏ. Chiếc khăn rất hợp với cô, đi đâu cô cũng chỉ thích quàng chiếc khăn đó, vì vậy mọi người đều gọi cô là cô bé Khăn đỏ.Một hôm, mẹ bảo cô:– Khăn đỏ ạ, đây là miếng bánh và bình sữa. Con mang đến cho bà nhé! Bà ốm yếu, cần phải ăn uống cho khỏe người. Con đi ngay bây giờ kẻo tí nữa lại nắng. Con đi cho ngoan, đừng có lang thang trong rừng lỡ vỡ bình, không có gì mang đến biếu bà. Khi vào buồng bà, con nhớ chào bà, đừng có mắt la mày lét nhìn các xó nhà nhé!Khăn đỏ đặt bàn tay nhỏ nhắn của mình vào lòng bàn tay mẹ và nói:– Con sẽ làm tất cả những điều mẹ dặn.Nhà bà nội ở trong rừng, cách làng không xa lắm, đi chừng nửa tiếng đồng hồ thì tới. Khăn đỏ vào rừng thì gặp chó sói. Em không biết sói là một con vật độc ác nên không thấy sợ.Sói nói:– Chào cháu Khăn đỏ!Khăn đỏ đáp:– Cháu xin chào bác!– Cháu đi đâu sớm thế, cháu Khăn đỏ?– Cháu đến nhà bà nội.– Cháu xách gì nặng thế?– Thưa bác, bánh và sữa ạ. Hôm qua, ở nhà mẹ cháu làm bánh, bà nội ốm cháu mang đến để bà ăn cho khỏe người.– Bà cháu ở đâu, cháu Khăn đỏ?– Đi vào rừng độ mười lăm phút thì tới. Dưới ba cây sồi to là nhà bà cháu, quanh nhà có nhiều bụi dẻ, chắc bác tìm thấy ngay.Sói nghĩ bụng:– Cái mồi non béo ngon này chắc là hơn hẳn cái mồi già kia!Sói tự nhủ phải mưu mô làm sao xơi được cả hai. Nó lân la đi cùng với Khăn đỏ một đoạn rồi nói:– Này cháu Khăn đỏ ạ, cháu hãy nhìn những bông hoa tươi đẹp kia kìa. Sao cháu không ngó quanh mà xem. Bác chắc là cháu chưa bao giờ lắng nghe tiếng chim hót véo von phải không? Cháu đi đâu mà cứ đăm đăm thẳng tiến như đi học ấy. Ở trong rừng vui lắm cháu ạ!Khăn đỏ mở to mắt ra nhìn. Em thấy ánh nắng rập rờn qua cành cây đung đưa, đó đây toàn là hoa thơm cỏ lạ, em nghĩ bụng:– Nếu mình mang một bó hoa tươi đến tặng bà chắc là bà thích lắm, trời còn sớm, mình đến bà còn kịp chán.Thế rồi Khăn đỏ đi hái hoa. Hái được một bông em lại nghĩ có lẽ vào thêm tí nữa sẽ có bông đẹp hơn. Cứ như vậy, Khăn đỏ tiến sâu vào trong rừng lúc nào không hay. Trong khi đó, sói lẻn thẳng tới nhà bà cụ và gõ cửa.– Ai ở ngoài đó đấy?– Cháu là Khăn đỏ đây, bà mở cửa cho cháu với! Cháu mang bánh và sữa lại cho bà đây.Bà nói:– Cháu cứ đẩy then mà vào. Bà yếu quá không dậy được.Sói đẩy then cửa, cửa mở toang. Chẳng nói chẳng rằng sói vào thẳng giường rồi nuốt chửng bà cụ. Rồi nó lấy quần áo của bà mặc vào, lấy mũ trùm đầu, lên giường nằm, lấy rèm che lại.Khăn đỏ thơ thẩn hái hoa trong rừng. Mãi tới lúc hái nhiều quá mang không hết, em mới chợt nhớ đến bà, vội lên đường đến nhà bà.Khăn đỏ ngạc nhiên thấy cửa mở toang, bước vào phòng thì thấy có gì khang khác, em nghĩ bụng hôm nay ở nhà bà sao lại thấy rờn rợn, chứ không thoải mái như mọi khi. Khăn đỏ nói to:– Cháu chào bà ạ!Chẳng có một tiếng trả lời. Em lại bên giường, kéo rèm ra, thì thấy bà nằm, mũ trùm kín mặt, trông lạ quá. Khăn đỏ ngạc nhiên hỏi:– Bà ơi bà! Sao tai bà to thế?– Tai bà to để nghe cháu rõ hơn.– Bà ơi bà! Sao mắt bà to thế?– Mắt bà to để nhìn thấy cháu rõ hơn.– Bà ơi bà! Sao tay bà to thế?– Tay bà to để bà nắm lấy cháu dễ hơn.– Ui trời ơi! Sao mồm bà to đáng sợ quá!– Mồm bà to để bà nuốt cháu dễ hơn.Vừa dứt lời, sói liền nhảy ra khỏi giường, nuốt chửng Khăn đỏ đáng thương.Xong xuôi, sói lại nhảy lên giường nằm ngủ và ngáy o o. Một bác thợ săn đi qua nghe thấy, nghĩ bụng:– Quái! Sao bà cụ già rồi mà còn ngáy to vậy, phải tạt vào xem bà cụ có ốm đau gì không?Bước vào phòng, đến gần giường, bác thấy sói đang nằm. Bác nói:– Chà, thì ra ta lại gặp mi ở đây, quân khốn khiếp. Ta đi tìm mi mãi…Bác giơ súng lên định bắn. Nhưng bác chợt nghĩ có lẽ sói đã ăn thịt bà cụ, tuy vậy may ra vẫn còn có thể cứu được. Bác không bắn, mà lấy kéo rạch bụng con sói đang ngủ. Vừa rạch được một nhát thì thấy chiếc khăn đỏ choé, rạch thêm nữa thì có cô bé nhảy ra kêu:– Ối chà, cháu sợ quá! Trong ấy tối đen như mực.Bà lão cũng còn sống chui ra, tuy hơi thở đã yếu. Khăn đỏ vội đi khuân đá thật to nhét đầy bụng sói. Sói tỉnh giấc muốn nhảy lên nhưng đá nặng quá, nó ngã khuỵu xuống và lăn ra chết.Ba người đều vui mừng. Bác thợ săn lột lấy da sói mang về nhà. Bà lão ăn bánh uống sữa do Khăn đỏ mang đến, ăn xong bà thấy người khỏe hẳn ra. Khăn đỏ nghĩ bụng:– Từ nay trở đi đừng có rời khỏi đường chạy một mình vào rừng sâu. Mẹ đã dặn vậy thì phải nhớ.Có người kể là một lần Khăn đỏ lại mang bánh đến cho bà thì một con chó sói khác la cà đến gần tính chuyện rủ rê để em rời khỏi đường. Nhưng Khăn đỏ đã đề phòng, cứ việc thẳng bước. Đến nơi em nói cho bà biết em gặp sói và em thấy mắt sói rất ác.– Nếu không phải là ở đường cái thì nó đã ăn thịt cháu rồi.Bà bảo:– Cháu vào đây để bà đóng cửa lại kẻo nó vào.Vừa đóng xong cửa một lát thì sói đến gõ cửa gọi:– Bà ơi bà mở cửa cho cháu. Cháu Khăn đỏ mang bánh lại cho bà đây.Hai bà cháu im lặng, không mở cửa. Con vật đầu xám rón rén đi quanh nhà mấy lần. Rồi nó nhảy lên mái nhà, định đợi đến chiều tối, khi nào Khăn đỏ ra về sẽ lén đi theo sau, rồi sẽ ăn thịt cô bé trong bóng đêm. Nhưng bà cụ biết rõ ý định của nó. Ở trước cửa nhà có một cái máng nước bằng đá. Bà bảo Khăn đỏ:– Cháu đi lấy cái thùng xách nước, Khăn đỏ ạ. Hôm qua bà làm dồi. Cháu đi lấy nước nấu dồi đổ cho đầy máng.Khăn đỏ xách nước đổ mãi mới đầy cái máng to ấy. Mùi dồi thơm bay xộc lên mũi làm sói rỏ dãi. Nó cứ nghểnh dài cổ xuống để ngửi, quá đà sói bị trượt chân rơi từ mái nhà xuống đúng vào máng nước nóng và chết.Khăn đỏ vui vẻ đi về nhà, không sợ bị ai đụng đến mình.

2. Truyện nàng bạch tuyết và bảy chú lùn tiếng Anh

Truyện cổ tích tiếng Anh song ngữ hay nhất cho bé - 3

SNOW-WHITE

It was the middle of winter, and the snow-flakes were falling like feathers from the sky, and a queen sat at her window working, and her embroidery-frame was of ebony. And as she worked, gazing at times out on the snow, she pricked her finger, and there fell from it three drops of blood on the snow. And when she saw how bright and red it looked, she said to herself, “Oh that I had a child as white as snow, as red as blood, and as black as the wood of the embroidery frame!” Not very long after she had a daughter, with a skin as white as snow, lips as red as blood, and hair as black as ebony, and she was named Snow-white. And when she was born the queen died. After a year had gone by the king took another wife, a beautiful woman, but proud and overbearing, and she could not bear to be surpassed in beauty by any one. She had a magic looking-glass, and she used to stand before it, and look in it, and say,“Looking-glass upon the wall,Who is fairest of us all?”And the looking-glass would answer,“You are fairest of them all.”And she was contented, for she knew that the looking-glass spoke the truth. Now, Snow-white was growing prettier and prettier, and when she was seven years old she was as beautiful as day, far more so than the queen herself. So one day when the queen went to her mirror and said,“Looking-glass upon the wall,Who is fairest of us all?”It answered,“Queen, you are full fair, ’tis true,But Snow-white fairer is than you.”This gave the queen a great shock, and she became yellow and green with envy, and from that hour her heart turned against Snow-white, and she hated her. And envy and pride like ill weeds grew in her heart higher every day, until she had no peace day or night. At last she sent for a huntsman, and said, “Take the child out into the woods, so that I may set eyes on her no more. You must put her to death, and bring me her heart for a token.” The huntsman consented, and led her away; but when he drew his cutlass to pierce Snow-white’s innocent heart, she began to weep, and to say, “Oh, dear huntsman, do not take my life; I will go away into the wild wood, and never come home again.” And as she was so lovely the huntsman had pity on her, and said, “Away with you then, poor child;” for he thought the wild animals would be sure to devour her, and it was as if a stone had been rolled away from his heart when he spared to put her to death. Just at that moment a young wild boar came running by, so he caught and killed it, and taking out its heart, he brought it to the queen for a token. And it was salted and cooked, and the wicked woman ate it up, thinking that there was an end of Snow-white.Now, when the poor child found herself quite alone in the wild woods, she felt full of terror, even of the very leaves on the trees, and she did not know what to do for fright. Then she began to run over the sharp stones and through the thorn bushes, and the wild beasts after her, but they did her no harm. She ran as long as her feet would carry her; and when the evening drew near she came to a little house, and she went inside to rest. Everything there was very small, but as pretty and clean as possible. There stood the little table ready laid, and covered with a white cloth, and seven little plates, and seven knives and forks, and drinking-cups. By the wall stood seven little beds, side by side, covered with clean white quilts. Snow-white, being very hungry and thirsty, ate from each plate a little porridge and bread, and drank out of each little cup a drop of wine, so as not to finish up one portion alone. After that she felt so tired that she lay down on one of the beds, but it did not seem to suit her; one was too long, another too short, but at last the seventh was quite right; and so she lay down upon it, committed herself to heaven, and fell asleep.When it was quite dark, the masters of the house came home. They were seven dwarfs, whose occupation was to dig underground among the mountains. When they had lighted their seven candles, and it was quite light in the little house, they saw that some one must have been in, as everything was not in the same order in which they left it. The first said, “Who has been sitting in my little chair?” The second said, “Who has been eating from my little plate?” The third said, “Who has been taking my little loaf?” The fourth said, “Who has been tasting my porridge?” The fifth said, “Who has been using my little fork?” The sixth said, “Who has been cutting with my little knife?” The seventh said, “Who has been drinking from my little cup?” Then the first one, looking round, saw a hollow in his bed, and cried, “Who has been lying on my bed?” And the others came running, and cried, “Some one has been on our beds too!” But when the seventh looked at his bed, he saw little Snow-white lying there asleep. Then he told the others, who came running up, crying out in their astonishment, and holding up their seven little candles to throw a light upon Snow-white. “O goodness! O gracious!” cried they, “what beautiful child is this?” and were so full of joy to see her that they did not wake her, but let her sleep on. And the seventh dwarf slept with his comrades, an hour at a time with each, until the night had passed. When it was morning, and Snow-white awoke and saw the seven dwarfs, she was very frightened; but they seemed quite friendly, and asked her what her name was, and she told them; and then they asked how she came to be in their house. And she related to them how her step-mother had wished her to be put to death, and how the huntsman had spared her life, and how she had run the whole day long, until at last she had found their little house. Then the dwarfs said, “If you will keep our house for us, and cook, and wash, and make the beds, and sew and knit, and keep everything tidy and clean, you may stay with us, and you shall lack nothing.” – “With all my heart,” said Snow-white; and so she stayed, and kept the house in good order. In the morning the dwarfs went to the mountain to dig for gold; in the evening they came home, and their supper had to be ready for them. All the day long the maiden was left alone, and the good little dwarfs warned her, saying, “Beware of your step-mother, she will soon know you are here. Let no one into the house.” Now the queen, having eaten Snow-white’s heart, as she supposed, felt quite sure that now she was the first and fairest, and so she came to her mirror, and said,“Looking-glass upon the wall,Who is fairest of us all?”And the glass answered,“Queen, thou art of beauty rare,But Snow-white living in the glenWith the seven little menIs a thousand times more fair.”Then she was very angry, for the glass always spoke the truth, and she knew that the huntsman must have deceived her, and that Snow-white must still be living. And she thought and thought how she could manage to make an end of her, for as long as she was not the fairest in the land, envy left her no rest. At last she thought of a plan; she painted her face and dressed herself like an old pedlar woman, so that no one would have known her. In this disguise she went across the seven mountains, until she came to the house of the seven little dwarfs, and she knocked at the door and cried, “Fine wares to sell! fine wares to sell!” Snow-white peeped out of the window and cried, “Good-day, good woman, what have you to sell?” – “Good wares, fine wares,” answered she, “laces of all colours;”and she held up a piece that was woven of variegated silk. “I need not be afraid of letting in this good woman,” thought Snow-white, and she unbarred the door and bought the pretty lace. “What a figure you are, child!” said the old woman, “come and let me lace you properly for once.” Snow-white, suspecting nothing, stood up before her, and let her lace her with the new lace; but the old woman laced so quick and tight that it took Snow-white’s breath away, and she fell down as dead. “Now you have done with being the fairest,” said the old woman as she hastened away. Not long after that, towards evening, the seven dwarfs came home, and were terrified to see their dear Snow-white lying on the ground, without life or motion; they raised her up, and when they saw how tightly she was laced they cut the lace in two; then she began to draw breath, and little by little she returned to life. When the dwarfs heard what had happened they said, “The old pedlar woman was no other than the wicked queen; you must beware of letting any one in when we are not here!” And when the wicked woman got home she went to her glass and said,“Looking-glass against the wall,Who is fairest of us all?”And it answered as before,“Queen, thou art of beauty rare,But Snow-white living in the glenWith the seven little menIs a thousand times more fair.”When she heard that she was so struck with surprise that all the blood left her heart, for she knew that Snow-white must still be living. “But now,” said she, “I will think of something that will be her ruin.” And by witchcraft she made a poisoned comb. Then she dressed herself up to look like another different sort of old woman. So she went across the seven mountains and came to the house of the seven dwarfs, and knocked at the door and cried, “Good wares to sell! good wares to sell!” Snow-white looked out and said, “Go away, I must not let anybody in.” – “But you are not forbidden to look,” said the old woman, taking out the poisoned comb and holding it up. It pleased the poor child so much that she was tempted to open the door; and when the bargain was made the old woman said, “Now, for once your hair shall be properly combed.” Poor Snow-white, thinking no harm, let the old woman do as she would, but no sooner was the comb put in her hair than the poison began to work, and the poor girl fell down senseless. “Now, you paragon of beauty,” said the wicked woman, “this is the end of you,” and went off. By good luck it was now near evening, and the seven little dwarfs came home. When they saw Snow-white lying on the ground as dead, they thought directly that it was the step-mother’s doing, and looked about, found the poisoned comb, and no sooner had they drawn it out of her hair than Snow-white came to herself, and related all that had passed. Then they warned her once more to be on her guard, and never again to let any one in at the door. And the queen went home and stood before the looking-glass and said,“Looking-glass against the wall,Who is fairest of us all?”And the looking-glass answered as before,“Queen, thou art of beauty rare,But Snow-white living in the glenWith the seven little menIs a thousand times more fair.”When she heard the looking-glass speak thus she trembled and shook with anger. “Snow-white shall die,” cried she, “though it should cost me my own life!” And then she went to a secret lonely chamber, where no one was likely to come, and there she made a poisonous apple. It was beautiful to look upon, being white with red cheeks, so that any one who should see it must long for it, but whoever ate even a little bit of it must die. When the apple was ready she painted her face and clothed herself like a peasant woman, and went across the seven mountains to where the seven dwarfs lived. And when she knocked at the door Snow-white put her head out of the window and said, “I dare not let anybody in; the seven dwarfs told me not.” – “All right,” answered the woman; “I can easily get rid of my apples elsewhere. There, I will give you one.” – “No,” answered Snow-white, “I dare not take anything.” – “Are you afraid of poison?” said the woman, “look here, I will cut the apple in two pieces; you shall have the red side, I will have the white one.” For the apple was so cunningly made, that all the poison was in the rosy half of it. Snow-white longed for the beautiful apple, and as she saw the peasant woman eating a piece of it she could no longer refrain, but stretched out her hand and took the poisoned half. But no sooner had she taken a morsel of it into her mouth than she fell to the earth as dead. And the queen, casting on her a terrible glance, laughed aloud and cried, “As white as snow, as red as blood, as black as ebony! this time the dwarfs will not be able to bring you to life again.” And when she went home and asked the looking-glass,“Looking-glass against the wall,Who is fairest of us all?”at last it answered,“You are the fairest now of all.”Then her envious heart had peace, as much as an envious heart can have. The dwarfs, when they came home in the evening, found Snow-white lying on the ground, and there came no breath out of her mouth, and she was dead. They lifted her up, sought if anything poisonous was to be found, cut her laces, combed her hair, washed her with water and wine, but all was of no avail, the poor child was dead, and remained dead. Then they laid her on a bier, and sat all seven of them round it, and wept and lamented three whole days. And then they would have buried her, but that she looked still as if she were living, with her beautiful blooming cheeks. So they said, “We cannot hide her away in the black ground.” And they had made a coffin of clear glass, so as to be looked into from all sides, and they laid her in it, and wrote in golden letters upon it her name, and that she was a king’s daughter. Then they set the coffin out upon the mountain, and one of them always remained by it to watch. And the birds came too, and mourned for Snow-white, first an owl, then a raven, and lastly, a dove. Now, for a long while Snow-white lay in the coffin and never changed, but looked as if she were asleep, for she was still as’ white as snow, as red as blood, and her hair was as black as ebony. It happened, however, that one day a king’s son rode through the wood and up to the dwarfs’ house, which was near it. He saw on the mountain the coffin, and beautiful Snow-white within it, and he read what was written in golden letters upon it. Then he said to the dwarfs, “Let me have the coffin, and I will give you whatever you like to ask for it.” But the dwarfs told him that they could not part with it for all the gold in the world. But he said, “I beseech you to give it me, for I cannot live without looking upon Snow-white; if you consent I will bring you to great honour, and care for you as if you were my brethren.” When he so spoke the good little dwarfs had pity upon him and gave him the coffin, and the king’s son called his servants and bid them carry it away on their shoulders. Now it happened that as they were going along they stumbled over a bush, and with the shaking the bit of poisoned apple flew out of her throat. It was not long before she opened her eyes, threw up the cover of the coffin, and sat up, alive and well. “Oh dear! where am I?” cried she. The king’s son answered, full of joy, “You are near me,” and, relating all that had happened, he said, “I would rather have you than anything in the world; come with me to my father’s castle and you shall be my bride.” And Snow-white was kind, and went with him, and their wedding was held with pomp and great splendour. But Snow-white’s wicked step-mother was also bidden to the feast, and when she had dressed herself in beautiful clothes she went to her looking-glass and said,“Looking-glass upon the wall,Who is fairest of us all?”The looking-glass answered,”Queen, although you are of beauty rare,The young bride is a thousand times more fair.”Then she railed and cursed, and was beside herself with disappointment and anger. First she thought she would not go to the wedding; but then she felt she should have no peace until she went and saw the bride. And when she saw her she knew her for Snow-white, and could not stir from the place for anger and terror. For they had ready red-hot iron shoes, in which she had to dance until she fell down dead.

NÀNG BẠCH TUYẾT VÀ BẢY CHÚ LÙN

Hồi ấy đang giữa mùa đông, hoa tuyết như những lông chim bay khắp bầu trời, có một bà hoàng hậu ngồi khâu bên cửa sổ. Khung cửa làm bằng gỗ mun đen nhánh. Hoàng hậu ngồi khâu nhưng lại mải ngắm tuyết rơi nên bị kim đâm vào ngón tay, và ba giọt máu đỏ rơi xuống tuyết trắng phau. Nhìn màu đỏ tươi nổi bật trên tuyết, hoàng hậu tự nhủ:– Giá mình có một đứa con da trắng như tuyết, môi đỏ hồng hào như màu máu đỏ tươi, tóc đen nhánh như gỗ mun khung cửa sổ này thì hay quá nhỉ.Ít lâu sau bà sinh được một cô con gái da trắng như tuyết, môi đỏ như son và tóc đen nhánh như gỗ mun, vì thế bà đặt tên con gái là Bạch Tuyết. Nhưng ngay sau khi đứa trẻ sinh ra thì hoàng hậu qua đời.Sau một năm để tang, nhà vua lấy vợ khác. Hoàng hậu mới xinh đẹp, nhưng tính tình kiêu ngạo, ngông cuồng. Mụ sẽ tức điên người khi nghe thấy nói rằng còn có người đẹp hơn mình. Mụ này có một chiếc gương thần, mỗi khi đứng ngắm mình trước gương, thường hỏi:– Gương kia ngự ở trên tường,Nước này ai đẹp được dường như ta.Gương trả lời:– Muôn tâu hoàng hậu, hoàng hậu chính là người đẹp nhất ở nước này.Hoàng hậu hài lòng lắm, vì mụ biết rằng gương nói thật.Bạch Tuyết càng lớn, càng đẹp. Khi Bạch Tuyết lên bảy nàng đẹp như nắng sớm mai và đẹp hơn chính cả hoàng hậu nữa. Có lần hoàng hậu ngồi trước gương và hỏi:– Gương kia ngự ở trên tường,Nước này ai đẹp được dường như ta.Gương trả lời:– Thưa hoàng hậu,Ở đây bà đẹp tuyệt trầnNhưng còn Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn.Hoàng hậu nghe nói giật mình, mặt tái xanh lại vì ghen tức. Từ đó trở đi, mỗi khi thoáng nhìn thấy Bạch Tuyết là mụ đã khó chịu, bực tức, rồi đâm ra căm ghét cô bé. Những cơn ghen ghét và lòng đố kỵ của mụ ngày càng mãnh liệt làm cho mụ ngày đêm bực bội, bứt rứt. Mụ cho gọi một người thợ săn đến và bảo:– Ngươi hãy mang con bé này vào trong rừng sâu, ta không muốn nhìn mặt nó nữa. Ngươi hãy giết nó đi, mang gan, phổi nó về cho ta để chứng tỏ ngươi đã giết nó.Người thợ săn vâng lệnh và dẫn cô bé vào rừng sâu. Nhưng khi bác rút dao ra định đâm thì cô bé khóc và nói:– Trời ơi, bác thợ săn yêu quý, bác hãy để cháu sống, cháu sẽ chạy trốn trong rừng hoang vu này, cháu xin thề là sẽ không bao giờ trở lại cung nữa.Thấy cô bé xinh đẹp, bác thợ săn động lòng thương và bảo:– Con trốn vào rừng đi, tội nghiệp con quá.Bác nghĩ: “Rồi có khi thú dữ lại ăn thịt cô bé mất thôi!.” Nhưng dù sao bác cảm thấy trút được gánh nặng trong lòng vì chẳng phải giết người. Đúng lúc đó có một con lợn rừng con nhảy tới, bác đâm chết lấy gan phổi mang về nộp hoàng hậu làm bằng chứng. Mụ dì ghẻ độc ác sai nhà bếp xào gan phổi cho mụ ăn. Mụ đinh ninh là gan phổi Bạch Tuyết nên mụ cố ăn cho kỳ hết.Còn lại cô bé bất hạnh lủi thủi một mình trong rừng rộng mênh mông, cô sợ hãi, ngơ ngác nhìn lá cây ngọn cỏ chẳng biết làm gì. Đột nhiên cô cắm đầu chạy, chạy giẫm cả lên gai và đá nhọn. Thú dữ lượn quanh cô, nhưng chẳng có con nào đụng đến người cô. Cô bé cứ thế chạy mãi, chạy mãi, tới lúc trời sẩm tối cô mới nhìn thấy một căn nhà nhỏ, liền vào đó nghỉ chân.Trong nhà tất cả mọi đồ vật đều nhỏ xíu, xinh xắn và sạch sẽ đến nỗi không thể chê vào đâu được. Giữa nhà có một cái bàn trải khăn trắng tinh, trên bàn bày bảy cái đĩa nhỏ xinh xinh, mỗi đĩa có một thìa con, một dao con, một nĩa on và cạnh đó là một ly cũng nho nhỏ xinh xinh như thế. Sát hai bên tường kê bảy chiếc giường nhỏ nối tiếp nhau, giường nào cũng phủ khăn trắng như tuyết.Đang đói và khát, Bạch Tuyết ăn ở mỗi đĩa một ít rau, ít bánh và uống ở mỗi ly một hớp rượu vang, vì cô không muốn để một ai phải mất phần. Suốt ngày chạy trốn trong rừng, giờ cô đã thấm mệt muốn đặt mình xuống giường nằm ngủ nhưng giường lại không vừa, cái thì dài quá, cái khác lại ngắn quá. Thứ đến cái thứ bảy mới thấy vừa, Bạch Tuyết nằm và ngủ thiếp đi.Khi trời tối mịt, những chủ nhân của căn nhà nhỏ mới về: đó là bảy chú lùn thường ngày đào bới quặng sắt ở trong núi. Họ thắp bảy ngọn đèn xinh xinh, và khi đèn tỏa sáng khắp căn nhà, họ cảm thấy hình như có ai đã vào nhà, vì mọi vật không còn giữ nguyên như khi họ rời căn nhà đi làm nữa.Chú thứ nhất nói:– Ai đã ngồi lên ghế xinh đẹp của tôi?Chú thứ hai nói:– Ai đã ăn ở đĩa nho nhỏ của tôi?Chú thứ ba nói:– Ai đã ăn bánh của tôi?Chú thứ tư nói:– Ai đã nếm rau ở đĩa của tôi?Chú thứ năm nói:– Ai đã lấy nĩa bé xíu của tôi đem cắt gì rồi?Chú thứ sáu nói:– Ai đã lấy dao xinh xắn của tôi đem cắt gì rồi?Chú thứ bảy nói:– Đã có ai uống nước ở ly xinh đẹp của tôi?Những chú khác cũng chạy lại giường mình và kêu:– Hình như đã có ai nằm lên giường tôi?Khi chú thứ bảy nhìn vào giường mình thì thấy Bạch Tuyết đang ngủ. Thế là chú gọi những chú kia chạy tới. Ai nấy đều ngạc nhiên, họ cầm bảy ngọn đèn soi Bạch Tuyết và reo lên:– Cha, cô bé sao mà xinh đẹp thế!Cả bảy chú đều vui mừng lắm, không đánh thức cô dậy, để yên cho cô bé ngủ.Chú lùn thứ bảy đành ngủ nhờ giường bạn, mỗi người một giờ, thế rồi cũng hết một đêm.Khi trời hửng sáng, Bạch Tuyết tỉnh dậy thấy bảy chú lùn đứng nhìn quanh thì rất sợ. Nhưng bảy người đều vui vẻ thân mật, hỏi cô:– Cô tên là gì?Cô trả lời:– Em tên là Bạch Tuyết.Mấy chú lùn lại hỏi tiếp:– Làm sao mà cô tới được nhà của chúng tôi?Thế là cô kể cho họ nghe chuyện dì ghẻ định ám hại cô, nhưng người thợ săn đã để cho cô sống và cô đã chạy trốn suốt cả ngày trong rừng tới khi sẩm tối thì thấy căn nhà của họ.Các chú lùn bảo cô:– Nếu cô đồng ý trông nom nhà cửa, nấu ăn, rũ giường, giặt quần áo, khâu vá, thêu thùa, quét tước, dọn dẹp nhà cửa cho sạch sẽ ngăn nắp thì cô có thể ở lại với chúng tôi, cô sẽ chả thiếu thứ gì cả.Bạch Tuyết nói:– Vâng, thực lòng mà nói, em cũng muốn vậy.Và từ đó, Bạch Tuyết ở với bảy chú lùn. Cô đảm đương mọi việc trong nhà, sáng sáng các chú lùn vào mỏ tìm sắt và vàng cho mãi tới chiều tối mới về, thì thức ăn của họ đã bày sẵn trên bàn. Suốt cả ngày, Bạch Tuyết ở nhà một mình. Các chú lùn tốt bụng nhắc nhở, căn dặn cô:– Hãy canh chừng mụ dì ghẻ nhé! Chẳng bao lâu mụ sẽ biết là cô ở đây. Đừng có cho ai vào nhà đấy!Hoàng hậu đinh ninh tưởng mình đã ăn gan phổi Bạch Tuyết nên chắc rằng chỉ còn có mình là người đẹp nhất trần gian.Mụ đứng ngắm mình trước gương và hỏi:– Gương kia ngự ở trên tường,Nước này ai đẹp được dường như ta.Gương trả lời:– Thưa hoàng hậu,Ở đây bà đẹp tuyệt trần,Nhưng còn Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn,Nàng ta ở khuất núi non,Nơi nhà của bảy chú lùn sống chung.Mụ giật mình, vì mụ biết rằng gương không bao giờ nói dối. Mụ nghĩ ngay là người thợ săn đã đánh lừa mụ và Bạch Tuyết hãy còn sống. Mụ ngồi nghĩ mưu giết Bạch Tuyết cho bằng được, chừng nào mụ chưa được gương gọi là người đẹp nhất thì ghen tức còn làm cho mụ mất ăn mất ngủ.Sau mụ nghĩ ra một kế, mụ bôi mặt, mặc quần áo trá hình thành một bà lão bán hàng, ai có gặp cũng khó lòng nhận ra được. Với hình dạng như vậy, mụ vượt bảy ngọn núi tới nhà bảy chú lùn. Mụ gõ cửa và rao:– Hàng tốt, hàng đẹp đây, có ai mua không, mua đi!Bạch Tuyết thò đầu qua cửa sổ hỏi:– Chào bà, bà có gì bán đấy?Bà lão trả lời:– Hàng tốt hàng đẹp đây, dây lưng đủ màu đây!Vừa nói bà vừa rút ra một chiếc dây lưng ngũ sắc dệt bằng tơ.Bạch Tuyết nghĩ:– Bà cụ này thật thà mình có thể cho vào nhà được.Bạch Tuyết mở cửa và mua một chiếc dây lưng thật đẹp.Bà lão nói:– Con ơi, trông con buộc vụng về lắm, lại đây bà buộc thật đẹp, cẩn thận cho con.Bạch Tuyết không chút e ngại, lại đứng trước bà cụ để bà buộc chiếc dây lưng mới cho.Thế là mụ già buộc thoăn thoắt, mụ thắt chặt cứng làm cho Bạch Tuyết nghẹt thở, ngã lăn ra bất tỉnh.Mụ nói:– Giờ thì con chỉ là người đẹp của quá khứ mà thôi.Rồi mụ vội vã ra về.Một lát thì trời tối, bảy chú lùn về nhà, thấy Bạch Tuyết yêu quý của họ nằm sóng soài trên mặt đất như chết, người không hề nhúc nhích cử động, họ rất lo lắng. Họ nhấc cô lên thì thấy chiếc dây lưng thắt chặt cứng, lấy dao cắt đứt dây, Bạch Tuyết lại khe khẽ thở và dần dần tỉnh dậy.Sau khi nghe Bạch Tuyết kể chuyện vừa xảy ra, bảy chú lùn bảo cô:– Mụ già bán hàng ấy chắc chẳng ai khác ngoài mụ hoàng hậu độc ác, cô phải giữ mình cẩn thận nhé, khi chúng tôi đi vắng thì đừng cho ai vào nhà cả.Về tới nhà, mụ hoàng hậu độc ác đến trước gương soi và hỏi:– Gương kia ngự ở trên tường,Nước này ai đẹp được dường như ta.Cũng như mọi lần, gương trả lời:– Thưa hoàng hậu,Ở đây bà đẹp tuyệt trần,Nhưng còn Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn,Nàng ta ở khuất núi non,Nơi nhà của bảy chú lùn sống chung.Khi nghe vậy, hoàng hậu máu trào sôi lên vì tức giận, mụ biết chắc là Bạch Tuyết đã sống lại.Mụ nói:– Được rồi, tao sẽ nghĩ ra kế khác để cho mày về âm phủ.Với những phép quỷ thuật, mụ làm một chiếc lược tẩm thuốc độc. Mụ ăn mặc trá hình thành một bà già khác lần trước, rồi vượt bảy ngọn núi tới nhà bảy chú lùn. Mụ gõ cửa và rao to:– Hàng tốt, hàng đẹp, ai mua ra mua!Bạch Tuyết ngó ra và nói:– Bà đi đi, tôi không được phép cho một ai vào nhà.Mụ già nói:– Nhưng chắc không ai cấm con cầm cái lược này xem chơi một chút chứ?Rồi mụ lấy chiếc lược tẩm thuốc độc giơ lên.Bạch Tuyết thích chiếc lược quá nên quên cả lời dặn dò, chạy vội ra mở cửa.Khi đôi bên thỏa thuận giá cả xong, mụ già nói:– Giờ để bà chải cho con nhé, bà chải cho thật đẹp nhé!Cô bé đáng thương ấy không nghi ngờ gì cả, cô để mụ chải đầu cho. Nhưng lược vừa mới cắm vào tóc, Bạch Tuyết đã bị ngấm thuốc độc, ngã lăn ra bất tỉnh.Mụ già độc ác nói:– Thế là người đẹp nhất nước đã đi đời nhà ma!Nói xong mụ bỏ đi.Nhưng may thay trời sắp tối, một lát au thì bảy chú lùn về tới nhà. Thấy Bạch Tuyết nằm như chết ở dưới đất, họ nghi ngay mụ dì ghẻ, họ lùng sục và tìm thấy chiếc lược tẩm thuốc độc cài trên đầu, vừa mới lấy lược ra thì Bạch Tuyết tỉnh dậy kể lại sự việc đã xảy ra. Một lần nữa bảy chú lùn lại căn dặn cô phải cẩn thận, bất cứ ai đến cũng không mở cửa.Bước chân về tới nhà, hoàng hậu lại soi gương và hỏi:– Gương kia ngự ở trên tường,Nước này ai đẹp được dường như ta.Cũng như mọi lần, gương trả lời:– Thưa hoàng hậu,Ở đây bà đẹp tuyệt trần,Nhưng còn Bạch Tuyết muôn phần đẹp hơn,Nàng ta ở khuất núi non,Nơi nhà của bảy chú lùn sống chung.Nghe gương như vậy toàn thân mụ run lên vì tức giận, mụ thét lên:– Bạch Tuyết, mày phải chết, dù tao có mất mạng cũng cam lòng.Sau đó mụ vào một căn phòng hẻo lánh trong lâu đài nơi không hề có ai bước chân tới, và mụ tẩm thuốc độc vào táo, quả táo chín đỏ trông rất ngon, ngon đến nỗi ai nhìn thấy cũng muốn ăn. Nhưng ai ăn một miếng sẽ chết ngay tức khắc.Khi tẩm thuốc xong, mụ bôi mặt, mặc quần áo trá hình thành một bà nông dân. Rồi mụ lại vượt bảy quả núi đến nhà bảy chú lùn. Mụ gõ cửa, Bạch Tuyết thò đầu qua cửa sổ nói:– Cháu không được phép cho ai vào nhà, vì bảy chú lùn đã cấm rồi.Bà già nói:– Thế cũng chẳng sao. Chỗ táo ngày bà muốn bán rẻ nốt để còn về. Đây, để bà cho con một quả.Bạch Tuyết nói:– Không, cháu không được phép nhận một thứ gì cả.Bà già nói:– Con sợ ăn phải thuốc độc chứ gì? Trông đây này, bà bổ táo làm hai, con ăn nửa táo chín đỏ, bà ăn phần táo trắng còn lại.Quả táo được tẩm thuốc rất khéo léo: chỉ nửa táo chín đỏ ngấm thuốc độc, Bạch Tuyết mắt hau háu nhìn quả táo chín ngon, thấy bà nông dân ăn mà không sao cả nên không dằn lòng được nữa, thò tay ra đón lấy nửa táo ngấm thuốc độc. Cô vừa cắn được một miếng thì ngã lăn ra chết liền.Hoàng hậu nhìn cô với con mắt gườm gườm, rồi cười khanh khách và nói:– Trắng như tuyết, đỏ như máu, đen như gỗ mun. Lần này thì những thằng lùn đừng hòng đánh thức con sống lại nữa, con ạ!Vừa về đến cung, mụ hỏi ngay gương:– Gương kia ngự ở trên tường,Nước này ai đẹp được dường như ta.Lần này gương đáp:– Muôn tâu hoàng hậu, hoàng hậu chính là người đẹp nhất ở nước này.Lúc đó, tính ghen ghét đố kỵ của mụ mới nguôi, mụ mới cảm thấy mãn nguyện.Theo thường lệ, đến tối bảy chú lùn mới về nhà, vừa bước vào cửa thì thấy ngay Bạch Tuyết nằm dưới đất, tim đã ngừng đập, không thấy hơi thở ra nữa, Bạch Tuyết đã chết.Bảy chú lùn nâng cô dậy, tìm xem có dấu vết chất độc nào không, rồi lấy nước và rượu lau mặt cho cô nhưng chẳng ăn thua gì; cô bé tội nghiệp ấy đã chết, chết thật rồi. Họ cho cô vào quan tài, cả bảy người ngồi quanh quan tài, khóc cô ba ngày liền. Sau đó họ muốn đem đi chôn nhưng thấy sắc người cô vẫn tươi tỉnh như người sống, đôi má xinh đẹp vẫn ửng hồng. Họ nói với nhau:– Thi hài như vậy, ai nỡ lòng nào đem vùi xuống đất đen ấy.Họ đặt làm một chiếc quan tài trong suốt bằng thủy tinh, bốn phía đều nhìn thấy được. Họ đặt cô vào trong đó, khắc tên Bạch Tuyết bằng chữ vàng và đề thêm rằng cô là một nàng công chúa. Rồi họ khiêng đặt quan tài nàng trên núi, cắt phiên nhau gác. Các loài vật cũng đến viếng khóc Bạch Tuyết.Bạch Tuyết nằm trong quan tài đã lâu lắm mà thi thể vẫn nguyên, nom như nàng đang nằm ngủ, vì nàng vẫn trắng như tuyết, đỏ hồng như máu, tóc vẫn đen như gỗ mun.Hồi đó, có một hoàng tử nước láng giềng đi lạc vào rừng và tới căn nhà của bảy chú lùn xin ngủ nhờ qua đêm. Hoàng tử nhìn thấy chiếc quan tài thủy tinh trên núi, Bạch Tuyết nằm trong chiếc quan tài có khắc dòng chữ vàng, đọc xong dòng chữ hoàng tử nói:– Để cho tôi chiếc quan tài này, các anh muốn lấy bao nhiêu tôi cũng trả.Bảy chú lùn đáp:– Đem tất cả vàng trên thế giới này để đổi, chúng tôi cũng chẳng bằng lòng.Hoàng tử nói:– Thế thì tặng tôi vậy, vì tôi không thể sống nếu không được trông thấy Bạch Tuyết, tôi thương yêu và kính trọng nàng như người yêu nhất trần đời của tôi.Nghe hoàng tử nói tha thiết vậy, những chú lùn tốt bụng động lòng thương và bằng lòng. Hoàng tử sai thị vệ khiêng quan tài trên vai mang về. Thị vệ đi vấp phải rễ cây rừng làm nảy thi hài Bạch Tuyết lên, miếng táo tẩm thuốc độc nàng ăn phải bắn ra khỏi cổ họng.Ngay sau đó, nàng từ từ mở mắt ra, nâng nắp quan tài lên, ngồi nhổm dậy và nói:– Trời ơi, tôi đang ở đâu đây?Mừng rỡ, hoàng tử nói:– Ta quý nàng hơn tất cả mọi thứ trên đời này, nàng hãy cùng ta về cung điện của vua cha, nàng sẽ là vợ của ta.Bạch Tuyết bằng lòng theo hoàng tử về hoàng cung. Lễ cưới Bạch Tuyết và hoàng tử được tổ chức rất linh đình và trọng thể. Mụ dì ghẻ độc ác của Bạch Tuyết cũng được mời tới dự. Sau khi ăn mặc thật lộng lẫy, mụ lại đứng trước gương soi và hỏi:– Gương kia ngự ở trên tường,Nước này ai đẹp được dường như ta.Gương trả lời:– Thưa hoàng hậu,Ở đây bà đẹp tuyệt trần,Nhưng hoàng hậu trẻ muôn phần đẹp hơn.Mụ dì ghẻ độc ác chửi đổng một câu, mụ trở nên sợ hãi không biết tính thế nào. Mới đầu mụ toan không đi dự đám cưới, nhưng mụ đứng ngồi không yên, mụ sốt ruột và muốn xem mặt hoàng hậu trẻ.Khi bước vào phòng, mụ nhận ngay ra Bạch Tuyết. Sợ hãi và hoảng loạn mụ đứng đó như trời trồng, không dám nhúc nhích. Nhưng giày sắt đã đặt trên lửa rồi, nhà vua trừng phạt buộc mụ phải xỏ chân vào đôi giày sắt nung đỏ và nhảy cho tới khi ngã lăn ra đất mà chết.

3. Truyện Nàng công chúa và hạt đậu

Truyện cổ tích tiếng Anh song ngữ hay nhất cho bé - 4

The Princess and the Pea

Once upon a time there was a prince who wanted to marry a princess; but she woul have to be a real princess. He travelled all over the world to find one, but nowhere could he get what he wanted. There were princesses enough, but it was difficult to find out whether they were real ones. There was always something about them that was not as it should be. So he came home again and was sad, for he would have liked very much to have a real princess.One evening a terrible storm came on; there was thunder and lightning, and the rain poured down in torrents. Suddenly a knocking was heard at the city gate, and the old king went to open it.It was a princess standing out there in front of the gate. But, good gracious! what a sight the rain and the wind had made her look. The water ran down from her hair and clothes; it ran down into the toes of her shoes and out again at the heels. And yet she said that she was a real princess.“Well, we’ll soon find that out,” thought the old queen. But she said nothing, went into the bed-room, took all the bedding off the bedstead, and laid a pea on the bottom; then she took twenty mattresses and laid them on the pea, and then twenty eider-down beds on top of the mattresses.On this the princess had to lie all night.In the morning she was asked how she had slept.“Oh, very badly!” said she. “I have scarcely closed my eyes all night. Heaven only knows what was in the bed, but I was lying on something hard, so that I am black and blue all over my body. It’s horrible!”Now they knew that she was a real princess because she had felt the pea right through the twenty mattresses and the twenty eider-down beds. Nobody but a real princess could be as sensitive as that.So the prince took her for his wife, for now he knew that he had a real princess; and the pea was put in the museum, where it may still be seen, if no one has stolen it.There, that is a true story.

Nàng công chúa và hạt đậu

Ngày xưa, có một hoàng tử muốn cưới một nàng công chúa, nhưng công chúa phải cho ra công chúa, phải hoàn thiện toàn mỹ. Hoàng tử bèn chu du khắp thiên hạ để kén vợ. Công chúa thì chẳng thiếu gì, nhưng nàng nào cũng có vài nhược điểm hoặc tật xấu. Thế là một ngày kia, hoàng tử đành buồn rầu trở về nhà.Đến tối, nổi lên một cơn giông tố kinh khủng. Mưa ào ào như xối. Có tiếng gõ cửa lâu đài.Lão vương thân chinh ra mở cửa.Bên ngoài là một nàng công chúa, nhưng mưa gió đã làm cho nàng tiều tụy quá thể. Đầu tóc, quần áo nàng võng những nước và còn nhỏ giọt từ mũi xuống giầy nàng. Nàng tự giới thiệu nàng là công chúa toàn thiện toàn mỹ mà hoàng tử đang chờ đợi. Hoàng hậu nghĩ thầm: “Được, cứ để xem xem !” . Rồi hoàng hậu vào buồng ngủ thắp đèn lên và nhét một hạt đậu xuống dưới đệm giường. Sau đó ngài đặt hai mươi cái đệm chồng lên trên cái đệm đã đặt trước. Đấy chính là cái giường dành cho công chúa.Sáng ra người ta hỏi thăm đêm qua nàng ngủ có yên giấc không. Nàng đáp :– Suốt đêm tôi không chợp mắt, vì nằm phải vật gì răn rắn, thâm tím cả mình mẩy.Hoàng hậu bèn phán :– Công chúa ra công chúa thật ! Đây chính là nàng công chúa toàn thiện toàn mỹ, nằm trên hai mươi lần đệm nàng vẫn thấy đau vì một hạt đậu.Hoàng tử cưới nàng làm vợ và hạt đậu được bày trong một phòng triển lãm, đến giờ vẫn vào xem được, vì chưa có ai lấy đi cả.Chuyện tôi kể đến đây là hết và tôi xin cam đoan với các bạn là chuyện có thật đấy.

4. Truyện cổ tích Thánh Gióng tiếng Anh

Truyện cổ tích tiếng Anh song ngữ hay nhất cho bé - 5

LEGEND OF THE HEAVENLY KING OF PHU-DONG

In the reign of Emperor Hung-Vuong the Sixth, Vietnam was a peaceful and prosperous country. The Red River was always crowded with boats. Paddy fields extended to the horizon. People were happy.Then suddenly, from the North came the An invaders. On their war paths, they burned down cities, murdered innocent people and committed all kinds of cruel acts. They destroyed most of the country and made life miserable for the people.The army of the emperor could not stop the enemy. Emperor Hung-Vuong sent messengers everywhere, trying to find someone who could drive the An invaders out. Young men gathered around those messengers, and listened to the appeal of the emperor. But nobody seemed to be able to save the country.At the time, in the village of Phu-Dong, lived an old couple with their baby son. Their son was already three years old, and yet, he could neither sit up, nor could he say a word. His old parents were very unhappy.One day, the emperor’s messenger came to the village. He started to read the appeal out loud. Giong, as the boy was named, sat up. He called out his parents and told them he wanted to talk to the messenger. Although the old father was greatly surprised at his son’s sudden ability to talk, he rushed out to ask the messenger to come inside.Before the messenger could say anything, Giong asked the man to return to the capital and told the emperor that he needed an iron horse, an armor and an iron rod to fight the An invaders. The words from the little boy sounded so clear and so powerful that the messenger quickly obeyed and went back to the imperial court.At the request of the messenger, the emperor ordered that all iron from the imperial warehouse be made available He called in every blacksmith of the country to the capital. There, they worked day and night melting down the iron. Then they made a huge horse, a large armor and a long rod of iron.During this time, at the village of Phu-Dong, Giong started to eat. He ate more and more each day and he grew up very fast. People in the village had to bring more rice to feed Giong who finished one large pot of rice after another. He finally grew up to be a giant.Then came the day when the imperial guards brought the iron horse, the armor and the rod to Phu-Dong. Giong stood up, stretched his arms and put on the armor. He seized the rod and quickly mounted the iron horse. Soldiers and young men from the village followed him to the front.Giong rode off on his horse. The iron horse roared like thunders and breathed fire from its nostrils Behind were soldiers carrying swords and lances vowing to fight the enemies.When he saw the enemies, Giong sped forward, charging straight into to the An invaders. The fire from the nostrils of the iron horse burned many enemy soldiers to death, Giong struck at the enemies with his iron rod. The enemy soldiers soon broke ranks and fled, leaving behind their dead and wounded.The enemies were reinforced with their best generals. Giong again rode into the battle and killed most of the An generals. As a result, the iron rod in his hand broke and became useless.Giong pulled scores of bamboo trees from a nearby forest and used them to fight the enemies. Then the trees broke, he pulled up others along the way. The last enemy general was killed with those bamboo trees. The invaders were defeated.Giong ordered his soldiers to return to the capital to bring the victorious news to the emperor. Then Giong rode his iron horse up the Soc Son mountain where he removed his armor and disappeared. People believed he went up to heaven.Emperor Hung-Vuong thought it was God who had sent Giong down to save the country. He gave orders that a temple be built in memory of Giong. He also awarded Giong the title of Heavenly King of Phu-Dong. A temple can still be found not far from the place where he ascended to heaven, and every year there is a festival to honor Giong.

THÁNH GIÓNG

Vào thời đại của Vua Hùng thứ sáu, Việt Nam là một đất nước hòa bình và thịnh vượng. Sông Hồng luôn tấp nập thuyền qua lại. Những cánh đồng lúa mở rộng đến chân trời. Mọi người dân đều có một cuộc sống hạnh phúc.Bỗng nhiên, từ phương Bắc, giặc Ân tràn tới. Trên con đường xâm lược nước ta, chúng đốt cháy các thành phố, giết hại những người vô tội và thực hiện những hành vi độc ác. Chúng đã phá hủy hầu hết đất nước và làm cho cuộc sống của người dân trở nên khốn khổ.Quân đội của hoàng đế không thể ngăn chặn kẻ thù. Hoàng đế Hùng Vương gửi sứ giả đến khắp mọi nơi, cố gắng tìm một người có thể đánh đuổi quân xâm lược. Thanh niên tụ tập để nghe sứ giả truyền lệnh của hoàng đế. Nhưng không ai có thể cứu được đất nước.Vào thời điểm đó, tại làng Phù Đổng, có một cặp vợ chồng già sống với một người con trai. Con trai của họ đã được ba tuổi, nhưng chưa bao giờ ngồi dậy hay cất tiếng nói. Cha mẹ già của cậu rất đau khổ.Một ngày nọ, sứ giả của hoàng đế đến làng và truyền lệnh của hoàng thượng. Gióng liền ngồi dậy. Cậu gọi cha mẹ và nói với họ rằng cậu muốn nói chuyện với sứ giả. Mặc dù người cha già đã rất ngạc nhiên khi con trai mình bỗng dưng biết nói, nhưng ông vẫn vội vã ra ngoài để yêu cầu sứ giả vào trong.Trước khi sứ giả có thể nói bất cứ điều gì, Gióng yêu cầu người đó quay lại kinh đô và nói với hoàng đế rằng cậu cần một con ngựa sắt, áo giáp sắt và một thanh sắt để chống lại quân xâm lược Ân. Những lời nói của cậu bé nghe rất rõ ràng và mạnh mẽ đến nỗi sứ giả nhanh chóng vâng lời và trở về triều đình.Theo yêu cầu của sứ giả, hoàng đế ra lệnh rằng tất cả sắt từ nhà kho hoàng gia sẽ được sử dụng và nhà vua đã kêu gọi mọi thợ rèn của đất nước đến kinh đô. Ở đó, họ làm việc ngày đêm để nung chảy những thanh sắt. Sau đó, họ làm một con ngựa khổng lồ, một bộ giáp lớn và một cây gậy sắt dài.Trong lúc này, tại làng Phù Đổng, Gióng bắt đầu ăn. Cậu ăn nhiều hơn và nhiều hơn nữa mỗi ngày và lớn lên rất nhanh. Người dân trong làng phải mang thêm gạo để cho Gióng ăn xong một nồi cơm lớn. Cuối cùng, Gióng lớn lên thành một người khổng lồ.Sau đó, đến ngày khi các vệ sĩ hoàng gia mang ngựa sắt, áo giáp và thanh đến Phù Đổng, Gióng đứng dậy, duỗi tay và mặc áo giáp. Cậu nắm lấy cây gậy và nhanh chóng ngồi lên con ngựa sắt. Những người lính và thanh niên từ làng đi theo cậu.Gióng cưỡi ngựa. Con ngựa sắt gầm gừ như sấm sét và thở ra từ lỗ mũi. Phía sau là những người lính mang kiếm với quyết tâm chống lại quân xâm lược.Khi nhìn thấy kẻ thù, Gióng lao về phía trước, lao thẳng vào quân xâm lược Ân. Ngọn lửa từ lỗ mũi của con ngựa sắt đốt cháy nhiều binh lính địch đến chết, Gióng đánh vào kẻ thù bằng cây gậy sắt của mình. Quân lính địch nhanh chóng phá vỡ hàng ngũ và chạy trốn, để lại vô vàn người chết và bị thương.Quân xâm lược được hỗ trợ bởi các tướng lĩnh tốt nhất. Gióng một lần nữa đi vào trận chiến và giết chết hầu hết các tướng Ân. Kết quả là, thanh sắt trong tay cậu vỡ ra và trở nên vô tác dụng.Gióng liền lấy những cây tre trong làng làm vũ khí chống lại kẻ thù. Tướng quân của địch cuối cùng bị giết bởi những cây tre đó. Những kẻ xâm lược

Mời bạn đánh giá bài viết để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn!
Truyện cổ tích Thánh Gióng cho bé
Vào thời Hùng Vương có 1 người đàn bà đã nhiều tuổi nhưng sống 1 mình. Một hôm vào buổi sáng sớm bà đi ra đồng, bỗng nhìn thấy một vế chân giẫm nát cả...

Truyện cổ tích cho bé

Theo Loan Trần (thoidaiplus.suckhoedoisong.vn)
Tin bài cùng chủ đề Dạy con