Bệnh viêm kết mạc

Viêm kết mạc cấp do virus (đau mắt đỏ) là bệnh lý hay gặp ở nước ta cũng như ở các nước có cùng đặc điểm địa lý khí hậu nhiệt đới như nóng ẩm, mưa nhiều.

Viêm kết mạc là gì?

Viêm kết mạc là viêm màng bao phủ tròng trắng của mắt và lớp sau mi mắt. Viêm kết mạc mắt có thể do nhiều nguyên nhân như nhiễm vi khuẩn, nhiễm virus, dị ứng, những phản ứng độc hại bỏng hóa chất ở mắt, ký sinh trùng, nấm...

Bệnh viêm kết mạc lây qua con đường nào?

- Tiếp xúc trực tiếp với người bị bệnh qua đường hô hấp, nước mắt, nước bọt, bắt tay, đặc biệt nước mắt người bệnh là nơi chứa rất nhiều vi rút.

- Cầm, nắm, chạm vào những vật dụng nhiễm nguồn bệnh như tay nắm cửa, nút bấm cầu thang, điện thoại; đồ vật, đồ dùng cá nhân của nguời bệnh như khăn mặt, chậu rửa mặt… Dùng chung đồ dùng sinh hoạt như khăn mặt, gối.

- Sử dụng nguồn nước bị nhiễm mầm bệnh như ao, hồ, bể bơi.

- Thói quen hay dụi mắt, sờ vào mũi, vào miệng.

- Bệnh viện, công sở, lớp học, nơi làm việc, nơi công cộng, trên xe buýt, tàu hỏa, máy bay… những nơi có mật độ người đông, cự ly gần rất dễ lây bệnh.

Thói quen hay dụi mắt, sờ vào mũi, vào miệng cũng dễ lây truyền bệnh viêm kết mạc. (Ảnh minh họa)

Nguyên nhân và dấu hiệu của bệnh viêm kết mạc

1

Viêm kết mạc do vi khuẩn

1.1

Vi khuẩn Proteus, Enterobacteriaceae, phế cầu, tụ cầu vàng, lậu cầu, não mô cầu…

- Mắt đỏ, tiết tố mủ nhiều.

- Buổi sáng mắt dính, khó mở, chảy nước mắt, cộm xốn.

- Thường ở 1 mắt, kết mạc cương tụ toàn bộ.

1.2

Vi khuẩn Lậu cầu (Neisseria Gonorrheae)

- Có thể lây từ đường sinh dục mẹ, từ tay thầy thuốc đỡ đẻ sang mắt trẻ sơ sinh.

- Khởi phát đột ngột, chảy nhiều mủ.

- Kết mạc có màu đỏ tươi, phù nhiều và có thể có màng giả mạc phủ lên trên bề mặt kết mạc sụn mi.

- Có hạch trước tai, mí mắt sưng phồng, đau, nhanh chóng dẫn đến biến chứng loét giác mạc, nhanh thủng mắt.

1.3

Mắt hột do vi khuẩn Chlamydia trachomatis 

- Cộm xốn, chảy nước mắt, đỏ mắt, tiết tố mủ nhầy.

- Hột ở kết mạc, sẹo ở kết mạc, lõm hột ở vùng rìa, lông siêu, lông quặm.

2

Viêm kết mạc do virus

(Virus herpes zoster, adenovirus, enterovius, Herpes simplex)

- Cương tụ, phù kết mạc.

- Xảy ra ở một bên mắt trước và sau đó vài ngày đến mắt còn lại.

- Hai mí mắt có thể bị sưng phồng.

- Chảy nước mắt nhiều, cộm xốn có cảm giác như vật lạ ở trong mắt.

- Xuất hiện vào mùa có dịch, có thể chảy máu ở tròng trắng, có hạch trước tai, đôi khi sốt, có thể có giả mạc ở kết mạc.

3

Viêm kết mạc do dị ứng

- Ghèn lỏng, cộm xốn

- Ngứa nhiều, chảy nước mắt, tái phát thường xuyên.

- Không lây lan, xuất hiện theo mùa.

- Phù mi mắt, phù  tròng trắng mắt đỏ.

- Nhiều gai nhú ở kết mạc sụn mi trên xếp thành hình gạch lát.

4

Viêm kết mạc do nhiễm độc 

 - Các chất axit, kiềm, chất độc hoá học, thuốc atropine là tác nhân gây kích thích mạnh gây viêm kết mạc, tổn thương giác mạc.

5

Viêm kết mạc do nấm

- Kèm theo viêm loét giác mạc do nấm Candida albicans, Aspergillus.

6

Viêm kết mạc do ký sinh trùng (chấy, rận)

Biến chứng bệnh viêm kết mạc

Nhiều loại viêm kết mạc có xu hướng tự khỏi như viêm kết mạc do virus… Tuy nhiên có một số loại viêm kết mạc có diễn biến bệnh lý đáng quan tâm như:

- Viêm kết mạc do cầu khuẩn lậu có thể nhanh chóng chuyển sang viêm loét giác mạc và tiếp đó là biến chứng thủng nhãn cầu.

- Viêm kết mạc do Adenovirus có thể xuất hiện viêm giác mạc chấm nông.

- Viêm kết mạc mùa xuân: nhú gai quá phát ở kết mạc sụn mi trên có thể gây ra loét trợt nông ở giác mạc.

- Mắt hột có thể gây lông quặm, sẹo giác mạc, mù, khô mắt, biến dạng bờ mi.

Ảnh minh họa

Điều trị bệnh viêm kết mạc

Hiệu quả của corticosteroids

Trong quá khứ, các loại thuốc tra nhỏ có chứa corticosteroids như prednisolone rất hay được kê đơn để giảm nhẹ các triệu chứng của viêm nhiễm trong đau mắt đỏ. Nghiên cứu trên động vật thấy các steroids có tác dụng làm giảm viêm trong giai đoạn cấp, dường như giảm các đốm thẩm lậu dưới biểu mô. Tuy nhiên chúng lại tăng nguy cơ nhân đôi của virus, kéo dài thời gian bị bệnh trung bình của bệnh sang quá mốc 10-14 ngày.  Viêm nhiễm kéo dài sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ với cộng đồng, cơ quan, trường học. Bởi những lý do đó, điều trị phổ biến bằng corticosteroid không được khuyến cáo cho đau mắt đỏ. Bác sĩ khi muốn kê thuốc này cho các hình thái đau mắt đỏ nặng cần cân nhắc rất cẩn thận nguy cơ và lợi ích.

Nhỏ mắt bằng povidone-iodine

Một chiến lược điều trị mới bằng dung dịch sát trùng nhỏ mắt povidone-iodine (betadine, alcon) đã được nhen nhóm. Trên nghiên cứu cho thấy dược thiện này làm bất hoạt virus adeno chỉ sau 1 phút tiếp xúc. Một nghiên cứu khác cho thấy dung dịch 2% của betadine làm tăng thời gian bất hoạt virus, hạn chế sinh sôi đáng kể virus adeno trên bề mặt nhãn cầu.

Tác dụng phụ hay gặp nhất là cảm giác đau chói khi tra nhỏ vào mắt. Do vậy, chúng ta nên dùng một giọt thuốc tê  tra nhỏ trước khi dùng tiếp betadine trên mắt. Tiếp theo nữa là một giọt nước muối sinh lý sau khi đã nhỏ betadine nhằm làm giảm kích thích và nguy cơ nhiễm độc có thể có. Sau đây là trình tự tra nhỏ betadine:

Nhỏ thuốc gây tê 0,5% proparacaine ophthalmic solution, chờ 30 giây để thuốc có tác dụng.

Nhỏ vài giọt 5% povidone-iodine ophthalmic solution vào cùng đồ dưới.

Cho bệnh nhân nhắm mắt, chớp mắt để thuốc lan tràn vào các bình diện bệnh lý của mắt.

Chấm thuốc còn thừa, rửa nước muối sau 1-2 phút.

Cách phòng bệnh viêm kết mạc

Đau mắt đỏ tuy là một bệnh cấp tính, triệu chứng rầm rộ, dễ lây nhưng thường lành tính, ít để lại di chứng, tuy nhiên bệnh thường gây ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, học tập và lao động, và có không ít trường hợp bệnh kéo dài, gây biến chứng ảnh hưởng đến thị lực sau này nên mọi người cần có ý thức phòng bệnh tốt và cần được xử trí kịp thời khi mắc bệnh.

Ảnh minh họa

Mầm bệnh có khả năng sống ở môi trường bình thường trong vài ngày và người bệnh vẫn có thể là nguồn lây bệnh sau khi đã khỏi bệnh một tuần. Vì vậy, cách phòng bệnh tốt nhất là thực hiện triệt để các biện pháp vệ sinh và cách ly với người bệnh. Các biện pháp cụ thể mọi người cần thực hiện như sau:

Khi không có dịch:

- Luôn đảm bảo vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước sạch.

- Dùng riêng khăn, gối, chậu rửa mặt.

- Giặt sạch khăn mặt bằng xà phòng và nước sạch, phơi khăn ngoài nắng hàng ngày.

- Không dùng tay dụi mắt.

Khi đang có dịch đau mắt đỏ:

Ngoài việc luôn thực hiện các biện pháp như khi không có dịch, cần lưu ý thực hiện thêm các biện pháp sau:

- Rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.

- Rửa mắt hàng ngày bằng nước muối sinh lý (nước muối 0,9%), ngày ít nhất 3 lần vào các buổi sáng, trưa, tối.

- Không dùng chung thuốc nhỏ mắt, không dùng chung đồ đạc với người đau mắt.

- Hạn chế tiếp xúc với người bị đau mắt.

- Hạn chế đến những nơi đông người đặc biệt là những nơi có nhiều mầm bệnh như bệnh viện…

- Hạn chế sử dụng các nguồn nước bị ô nhiễm, hạn chế đi bơi.

Cách xử trí khi có người bị bệnh hoặc nghi bị bệnh đau mắt đỏ:

- Lau rửa ghèn, dử mắt ít nhất 2 lần một ngày bằng khăn giấy ẩm hoặc bông, lau xong vứt bỏ khăn, không sử dụng lại.

- Không tra vào mắt lành thuốc nhỏ của mắt đang bị nhiễm khuẩn.

- Tránh khói bụi, đeo kính mát cho mắt.

- Những trẻ em bị bệnh nên nghỉ học, không đưa trẻ đến trường hoặc những nơi đông người trong thời gian bị bệnh.

- Khi trẻ bị đau mắt, thông thường sẽ bị 1 bên mắt trước, bố mẹ và người nhà cần chăm sóc trẻ thật cẩn thận, để tránh nhiễm bệnh cho mắt còn lại. Cho trẻ nằm nghiêng một bên, nhỏ mắt rồi dùng gạc y tế lau ngay ghèn, dử và nước mắt chảy ra (làm tương tự đối với người lớn).

- Tránh ôm ấp khi trẻ em bị bệnh, ngủ riêng.

- Trước và sau khi vệ sinh mắt, nhỏ mắt, cần rửa tay thật sạch bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn.

- Người bệnh cần được nghỉ ngơi, cách ly, dùng thuốc theo đơn của thầy thuốc. Không tự ý mua thuốc nhỏ mắt. Không dùng thuốc nhỏ mắt của người khác.

- Không đắp các loại lá vào mắt như là trầu, lá dâu...

- Khi có dấu hiệu đau mắt đỏ phải đến cơ sở y tế để được khám, tư vấn và điều trị.

tin mới trong ngày TIN MỚI TRONG NGÀY